Công ty chậm làm sổ bảo hiểm cho nhân viên, hướng giải quyết?

Thứ tư , 31/12/2008 , 10:22 (GMT+7)
Tôi làm việc cho một công ty cổ phần (trước năm 2005 là doanh nghiệp nhà nước) được 13 tháng. Hằng tháng công ty vẫn trừ tiền lương của tôi để đóng BHXH, BHYT nhưng mỗi lần đi khám bệnh tôi phải tự bỏ tiền túi ra vì chưa có thẻ bảo hiểm, đem hóa đơn về nộp thì công ty không thanh toán lại cho tôi.

Khi tôi có ý kiến, nhân viên bảo hiểm tiền lương bảo công ty chậm đóng BHXH và BHYT cho tất cả nhân viên của công ty (chỉ đóng đến tháng 10-2007). Tôi phải làm gì để đòi lại quyền lợi cho mình? Nếu phải nộp đơn khiếu nại thì tôi cần phải có những chứng cứ gì? Nếu tôi xin thôi việc, theo luật thì bao lâu tôi mới nhận được sổ bảo hiểm (vì công ty chưa đóng tiền nên chưa thể chốt sổ)?


Theo hợp đồng lao động (HĐLĐ) đã ký với công ty thì lương khoán của tôi là 3 triệu đồng, lương theo bậc là 1,263 triệu. Hằng tháng công đoàn đều trừ từ lương của tôi 30.000 đồng (trừ 1% lương thực lĩnh). Xin hỏi công đoàn trừ lương như vậy có đúng luật không? Nếu tôi xin nghỉ việc thì trợ cấp thôi việc của tôi là theo lương 3 triệu đồng hay lương theo hệ số (đóng bảo hiểm theo lương hệ số cơ bản)? Trợ cấp cho 1 năm làm việc là 1 tháng hay 1/2 tháng lương?


(Ngoc Thuy)


- Tư vấn của Việc làm Online:


Điều 2 Luật BHXH quy định người lao động tham gia BHXH bắt buộc là công dân Việt Nam bao gồm: người làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên. Người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc bao gồm: doanh nghiệp, hợp tác xã…


Điều 91 Luật BHXH quy định hằng tháng người lao động đóng bằng 5% mức tiền lương, tiền công vào quỹ hưu trí, tử tuất. Điều 92 Luật BHXH quy định hằng tháng người sử dụng lao động đóng trên quỹ tiền lương, tiền công đóng BHXH của người lao động như sau: 3% vào quỹ ốm đau và thai sản; 1% vào quỹ tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp, 11% vào quỹ hưu trí tử tuất.


Khi người lao động tham gia BHXH bắt buộc thì được nhận lương hưu và các khoản trợ cấp BHXH đầy đủ, kịp thời (điều 151 BLLĐ, khoản 2 điều 15 Luật BHXH).


Điều 3 điều lệ BHYT (ban hành kèm theo nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16-5 -2005 của Chính phủ), BHYT bắt buộc được áp dụng đối với những đối tượng sau: người lao động Việt Nam làm việc theo HĐLĐ có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên và HĐLĐ không xác định thời hạn trong các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, tổ chức sau:



a) Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhà nước;
b) Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật doanh nghiệp.

Điều 15 điều lệ BHYT quy định mức phí BHYT hằng tháng của người lao động bằng 3% tiền lương, tiền công, trong đó người sử dụng lao động đóng 2%, người lao động đóng 1%.


Theo điều 16 điều lệ BHYT, người sử dụng lao động quản lý người lao động trích tiền đóng BHYT và thu tiền đóng BHYT theo tỉ lệ hoặc mức đóng được quy định tại điều 15 của điều lệ BHYT nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội định kỳ hằng tháng đối với những đối tượng vừa thực hiện BHXH vừa thực hiện BHYT.


Khi người lao động tham gia BHYT bắt buộc thì được hưởng chế độ BHYT khi khám, chữa bệnh ngoại trú và nội trú ở các cơ sở y tế nhà nước và tư nhân có hợp đồng với cơ quan BHXH khám, chữa bệnh cho người bệnh BHYT (điều 16 điều lệ BHYT).


Chiếu theo quy định pháp luật nêu trên, việc hằng tháng công ty bạn vẫn trừ tiền lương của bạn để đóng BHXH, BHYT nhưng chưa tiến hành thủ tục lập hồ sơ tham gia BHXH bắt buộc, đóng BHXH, BHYT đối với bạn để bạn được hưởng các quyền lợi về BHXH, BHYT nên đã gây ra thiệt hại cho bạn.


Để bảo quyền lợi, bạn có quyền trực tiếp yêu cầu giám đốc công ty giải quyết quyền lợi, bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bạn do công ty không tham gia đóng BHXH, BHYT cho bạn. Nếu giám đốc công ty không chấp nhận yêu cầu của bạn thì theo quy định tại khoản 2 điều 151, 160, 165a,166 BLLĐ; điều 31 điều lệ BHYT, bạn có quyền làm đơn yêu cầu hội đồng hòa giải lao động cơ sở của công ty hoặc yêu cầu Phòng Lao động - thương binh & xã hội cấp huyện nơi công ty bạn có trụ sở chính cử hòa giải viên lao động (nếu công ty bạn không có hội đồng hòa giải) để tiến hành hòa giải tranh chấp về BHXH, BHYT giữa bạn với công ty. Nếu qua hòa giải nhưng không thành, bạn có quyền làm đơn khởi kiện công ty tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi công ty bạn có trụ sở chính để xét xử tranh chấp về BHXH, BHYT.


Khi bạn khiếu nại, khởi kiện về tranh chấp BHXH, BHYT với công ty, bạn cần phải có những chứng cứ sau:



+ CMND, hộ khẩu (sổ tạm trú) của bạn;
+ Hợp đồng lao động, quyết định tuyển dụng;
+ Bảng lương hằng tháng của bạn (nếu có).

Trường hợp bạn xin thôi việc, theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 18 Luật BHXH, công ty bạn phải có trách nhiệm trả sổ BHXH ngay cho bạn khi bạn không còn làm việc tại công ty. Còn việc công ty bạn chưa đóng tiền BHXH cho tổ chức BHXH thì thuộc về trách nhiệm của công ty. Nếu công ty chậm trả sổ BHXH cho bạn, theo quy định tại điều 130 Luật BHXH, bạn có quyền làm đơn khiếu nại công ty.


Trường hợp hằng tháng công đoàn đều trừ tiền lương của bạn 30.000 đồng (trừ 1% lương thực lĩnh) để trích nộp kinh phí công đoàn, theo quy định tại mục 2 phần I thông tư liên tịch số: 119/2004/TTLT/BTC-TLĐLĐVN ngày 8-12-2004 của Bộ Tài chính - Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam (hướng dẫn trích nộp kinh phí công đoàn) thì các doanh nghiệp trích, nộp kinh phí công đoàn bằng 2% quỹ tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động và các khoản phụ cấp lương (nếu có).


Theo quy định tại mục 2 phần II thông tư liên tịch số: 119/2004/TTLT/BTC-TLĐLĐVN thì đối với các doanh nghiệp: khoản trích, nộp kinh phí công đoàn được hạch toán vào giá thành hoặc phí lưu thông và quyết toán theo quy định hiện hành.


Chiếu theo quy định pháp luật nêu trên thì đối với các doanh nghiệp, việc trích, nộp kinh phí công đoàn thuộc về trách nhiệm của doanh nghiệp. Doanh nghiệp được hạch toán kinh phí công đoàn vào giá thành hoặc phí lưu thông và quyết toán theo quy định của pháp luật hiện hành nên hằng tháng công đoàn trừ 1% tiền lương của bạn để trích nộp kinh phí công đoàn là chưa đúng theo nội dung hướng dẫn tại thông tư liên tịch số: 119/2004/TTLT/BTC-TLĐLĐVN.


Về tiền trợ cấp thôi việc, theo điều 15 nghị định số 144/2002/NĐ-CP của Chính phủ (quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về tiền lương): Tiền lương làm căn cứ để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương theo HĐLĐ, được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi thôi việc, gồm tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có).


Chiếu theo quy định pháp luật nêu trên thì tiền lương làm căn cứ để tính trợ cấp thôi việc cho bạn là tiền lương theo HĐLĐ mà bạn thực nhận bao gồm tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có) và được tính bình quân của 6 tháng lương liền kề trước khi bạn thôi việc.


Theo quy định tại điều 42 BLLĐ thì tiền trợ cấp thôi việc cho mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương (nếu có).


Luật sư TRỊNH VĂN HIỆP


(TTO)

Tags :
Tin mới nhất
Các tin cũ hơn
Tin Xem Nhiều
Liên hệ nhanh
Họ tên :
Công ty :
Địa chỉ :
Phone :
Email :
Nội dung :
Mã xác nhận :   
  
Copyright © VN-SEO · All Rights Reserved.